Chữa ung thư, u bướu tại đông y thọ xuân đường

Cảm ơn quý vị đến với website dongythoxuanduong.com.vn. Kỷ lục Guiness Nhà thuốc đông y gia truyền nhiều đời nhất Việt Nam cứu tinh của những người mắc bệnh nan y. Đặc trị các bệnh hen, xoang, động kinh, mất ngủ, bệnh ung thư và các bệnh nan y khác
Showing posts with label Ung thư. Show all posts
Showing posts with label Ung thư. Show all posts

Thursday, July 3, 2014

Đông y chữa bệnh ung thư đại tràng

NGUYÊN DO ung thư đại tràng

Ung Thư đại tràng thường xuyên đương làm gọi là ung thư ruột già ( ruột già ) , là phần dưới của hệ thống giao thông xài hóa. Các chuyên gia ý là , một người chẳng thể truyền nhiễm bệnh từ một bệnh nhân ung thư đại tràng.
Ung số đại tràng
Một số phận nhân tố đánh tăng nguy cơ tật ung thư ĐT :
1. Chế độ ăn uống
Chế độ ăn uống rất nhiều chất béo được là dễ mắc tật ung thư đại tràng. Ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư đại tràng cao , lượng chất béo tiêu thụ cao hơn nườm nượp so với ở các gió mà thành có tỷ lệ ung thư thấp. Địa ngục ta tin rằng quá trình xài hóa chất béo xảy ra trong suốt tam tiêu và đại tràng dẫn tới sự hình thành của các hóa chất gây ung thư ( chất gây ung thư ). Chế quãng xực nườm nượp rau quả và các loại thực phẩm nườm nượp chất xơ như bánh mì , ngũ cốc nguyên hột , các loại ngũ cốc chứa ít chất béo làm ra các chất gây ung thư và có xác xuất chống lại các tác động của các chất gây ung thư. Cả hai nhân tố nè sẽ giúp giảm nguy cơ ung thư.
Ung số đại tràng có nườm nượp khả năng xảy ra ở những người ít cơ năng , mập xuỳ và những người nghiền thuốc lá , rượu.

2. Polyp đại tràng
Các bác sĩ tin rằng , hồ hết các tật ung thư đại tràng phát triển từ polyp đại tràng. Polyp đại tràng là các thương tổn bé và lành tính , có hình trạng như những u , Polyp đại tràng ban sơ tiếp thụ thêm thiệt hại thể nhiễm sắc để trở thành ung thư. Vì vậy , nếu loại bỏ các polyp đại tràng có xác xuất phòng ngừa ung thư ĐT tràng.

3. Viêm loét đại tràng
Viêm loét đại tràng mãn tính gây ra tình trạng viêm của lóng niêm mạc đằng trong suốt của đại tràng. Ung số ruột già là một biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính. Nguy cơ ung thư bắt đầu tăng sau 8-10 năm viêm đại tràng. Nguy cơ phát triển ung thư ruột già ở bệnh nhân viêm loét đại tràng cũng có liên quan tới vịt xiêm và mức độ của bệnh.

ước lượng bây giờ của tỷ lệ ung thư ruột già liên tưởng tới viêm loét ĐT : 2 , 5% là 10 năm , 7 , 6% là 30 năm , và 10 , 8% là 50 năm. Bệnh nhân dịp có nguy cơ cao ung thư là những người có đã từng mắc gia đình ung thư ruột già , một thời kì dài của viêm đại tràng , ruột già , với viêm đại tràng , và những người có liên quan tới bệnh gan , viêm đường mật xơ.

4. Di truyền
Di truyền là một nhân tố chủ yếu trong| nguy cơ ung thư ruột già. Mặc dù lịch sử của gia đình mắc bệnh ung thư ruột già là một nhân tố chủ yếu trong nguy cơ ung thư , nhưng phần lớn ( 80% ) bệnh ung thư đại tràng xảy ra ở những bệnh nhân không có Thời đại tối cổ gia đình mắc bệnh ung thư ruột già. Còn quãng 20% bị ung thư có liên quan tới tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư ruột kết.

5. Tuổi
tổ tông là một nhân tố nguy cơ quan yếu đối với ung thư ruột già , như 90% những người xuể chẩn đoán là trên 50.
6. nhân tố y tế khác
Một số phận người có nguy cơ bị ung thư ruột già khi bị tiểu đường , tật lớn cực ( rối loạn nội tiết tố tăng trưởng ) , xạ trị tặng tật ung thư khác , viêm loét đại tràng và tật Crohn.

Tuesday, June 24, 2014

Phân biệt U não và Ung thư não.

Những điều cần biết về U não và Ung thư não

1.    Có nhiều loại khối u não và không phải tất cả những khối u não là ung thư. U não chia thành u não lành tính (không ung thư) và u não ác tính (ung thư).
2.    Ung thư não thứ cấp (hay còn gọi là Ung thư não di căn) là loại phổ biến nhất của bệnh ung thư não. Ung thư não thứ cấp là ung thư từ một phần khác cơ thể như gan, phổi…và chuyển đến não. Tùy thuộc vào tình trạng và loại ung thư, tỷ lệ sống của bệnh nhân ung thư não thứ cấp khoảng 6-12 tháng.
Loại ung thư não thứ hai là Ung thư não nguyên phát (hay còn gọi là Glioblastoma) đã được các nhà khoa học ghi nhận là căn bệnh nguy hiểm nhất từ xưa tới nay. Não bộ bị Glioblastoma tấn công và chúng tạo ra những khối u mà không thể cắt bỏ. Những bệnh nhân mắc bệnh này thường sẽ bị tử vong trong vòng 2 năm.
3.    Ung thư não thường xuất hiện ở 2 độ tuổi: ở trẻ em độ tuổi 3-12 tuổi, đa số là bị khối u nguyên phát) và ở người lớn độ tuổi 40-70 tuổi, đa số là bị khối u thứ cấp.
4.    Dấu hiệu sớm của ung thư não:
-    Đau đầu thường xuyên và đau nặng hơn vào sáng sớm hay khi ho, hắt hơi…
-    Khó nói: Do thùy đỉnh bị chèn ép bởi khối u.
-    Co giật, rối loạn thính giác, thị lực (nhìn mờ, nhìn đôi..), mất cảm giác ở tay chân.
-    Thay đổi tính cách, hành vi
-    Giữ thăng bằng khó khăn.
5.    Một số yếu tố tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư não
-    Tỷ lệ ung thư não cao hơn đối với những người tiếp xúc trong môi trường hóa chất, hóa học như làm việc trong nhà máy lọc dầu, hóa chất benzene, xử lý nhiên liệu máy bay, ướp xác, nhà hóa học, công nhân ngành công nghiệp cao su…
-    Tiếp xúc bức xạ: có thể đã trị liệu bằng bức xạ chữa ung thư khác từ trước đó đã làm tang nguy cơ phát triển khối u não.
-    Di truyền, hút thuốc
-    Chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học chứng minh việc sử dụng điện thoại và khối u não.
u não, ung thư não, ung thu nao, ung thu nao la gi
6.    Tùy thuộc vào loại ung thư để điều trị. Đối với ung thư nguyên phát, lựa chọn đầu tiên là phẫu thuật, tiếp theo là xạ trị, hóa trị. Đối với phẫu thuật ung thư thứ phát thì có thể không cần xạ trị, hóa trị và phẫu thuật dao Gamma, tùy thuộc vào số lượng và kích thước các khối u.
7.    Bức xạ có hai loại là bức xạ không ion hóa và bức xạ ion hóa
-    Bức xạ không ion hóa: Bực xạ này không phá vỡ những liên kết hóa học, nếu bức xạ rất mạnh có thể làm nóng các mô, nếu yếu thì không có tác dụng đáng kể. Đây không phải là nguyên nhân dẫn đến ung thư. Những bức xạ không ion hóa như hồng ngoại, bức xạ điện thoại, sóng radio, bức xạ chúng ta nấu thức ăn trong lò vi sóng...
-    Bức xạ ion hóa: Bức xạ này phá vỡ liên kết hóa học nên nguy hiểm hơn nhiều và là nguyên nhân gây ung thư. Các loại bức xạ ion hóa: tia X(chụp, chiếu x-quang, CT), các tia alpha, gamma, beta phát ra bởi các nguyên tố phóng xạ khi chúng phân rã.
Theo trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa kỳ (CDC), hàng ngày chúng ta vẫn đang phơi nhiễm với các tia bức xạ với khoảng 80% từ thiên nhiên (như ánh nắng mặt trời, các phóng xạ trong long đất) và 20% từ nhân tạo (các thiết bị tư tivi, lò viba, các thiết bị điều trị chẩn đoán trong y khoa). Những nguồn bức xạ này nhỏ, không thường xuyên nên không gây hại cho con người.
Tuy nhiên, nếu bị phơi nhiễm trong thời gian dài dưới một lượng lớn chất phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân (thảm họa Chernobul – Ukraine - 1986) sẽ làm cơ thể tổn thương không phục hồi, có khi dẫn đến tử vong.
8.    Bệnh nhân có thể hiến tặng các cơ quan cơ thể khi bị ung thư não nguyên phát, còn khi bệnh nhân bị ung thư não thứ phát thì không thể.

Wednesday, May 7, 2014

Phân tích nguyên nhân bệnh ung thư

     Ung thư là tên gọi chung dùng để nói đến một nhóm bệnh trên hai trăm loại khác nhau về sự phát triền  của nguồn gốc các tế bào, nguyên nhân, tiên lượng và cách thức điều trị bệnh ung thư nhưng tất cả có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của các tế bào, khả năng tồn tại và phát triển của chúng ở các cơ quan và tổ chức lạ.
     Các tế bào ung thư thường phát triển từ một tế bào ban đầu thường thì phải mất nhiều năm cho tới khi kích thước đủ lớn để người bệnh có thể nhận thấy được. Quá tŕnh phát triển từ một tế bào ung thư duy nhất thành một khối ung thư trải qua nhiều giai đoạn. 
      Bình thường, các tế bào lành có một tuổi thọ nhất định và tuân thủ theo một quy tắc chung là phát triển - già - chết. Các tế bào chết đi sẽ được thay thế bằng các tế bào mới. Cơ thể luôn có một cơ chế kiểm soát quy luật này một cách chặt chẽ, và luôn duy trì số lượng tế bào ở mỗi cơ quan, mỗi tổ chức ở mức ổn định. Bệnh ung thư bắt đầu khi có một tế bào vượt qua được cơ chế kiểm soát này của cơ thể, chúng không chết đi mà bắt đầu phát triển và sinh sôi, hình thành một nhóm tế bào có chung một đặc điểm là phát triển vô tổ chức, xâm lấn và chèn ép các cơ quan và tổ chức xung quanh. Các tế bào ung thư có không tuân heo quy luật, dễ dàng bứt ra khỏi khối u mẹ, theo  máu và mạch bạch huyết di cư đến các tổ chức và cơ quan khác, bám lại và tiếp tục sinh sôi (quá tŕnh này gọi là “di căn”). Các loại ung thu chèn ép hoặc di căn đến các cơ quan giữ chức năng sống của cơ thể con người như năo, phổi, gan, thận… bệnh nhân sẽ tử vong.
     Hiện nay, các nhà khoa học đã chứng minh: sự phát triển bình thường của tế bào trong cơ thể lập nên cơ chế kiểm soát bằng ba nhóm gen:
ung thu, te bao ung thu, ung thư, tế bào ung thu
Sự phát triển của tế bào bình thường và tế bào ung thư
• Nhóm gen sinh ung (oncogene) chịu trách nhiệm về sự phát triển và biệt hóa tế bào. Nếu nhóm gen này bị tổn thương (có biến dị), lúc đó nó hoạt động không theo đúng quy luật và làm cho các tế bào phân chia liên tục, phát triển một cách không kiểm soát được. 
• Nhóm gen ức chế tế bào(oncogene supressors): Chịu trách nhiệm ức chế các gen sinh trưởng, không cho các tế bào tham gia tùy tiện vào chu kỳ sinh trưởng. Nếu gen này bị mất hay là bị tổn thương, các gen sinh trưởng sẽ bị mất kiểm soát và chúng hoạt động một cách bất thường khiến cho các tế bào sẽ sinh sản bất bình thường. 
• Nhóm gen sửa chữa: Là nhóm gen có trách nhiệm điều chỉnh những sai sót trong hoạt động của các loại gen trên. Nếu gen này bị tổn thương thì những biến dị của hai loại gen trên sẽ không được khắc phục dẫn đến sự sinh trưởng bất bình thường của tế bào.